Vật lý trị liệu

Thứ ba 07/02/2017 | 11:47 GMT 07

6 Cách xoa bóp trị liệu và cải thiện chức năng

Cách xoa bóp trị liệu trong vật lý trị liệu- Có lẻ mọi người điều biết đến mục đích của xoa bóp trị liệu rất có lợi cho sức khỏe như thế nào. Thì hôm nay Y tế quân đội biên tập 6 cách xoa bóp trị liệu cùng những kỹ thuật hữu ích hy vọng sẽ mang lại một số kiến thức bỏ túi trong việc massage bấm huyệt cho bạn. Tuy nhiên bạn cũng nên tìm hiểu về chỉ định và chống chỉ định của xoa bóp để an toàn trong việc xoa bóp bạn nhé. 

Xem bài trước: Tác dụng của xoa bóp vật lý trị liệu lên hệ tuần hoàn

1./ Xoa vuốt

- Xoa vuốt là kỹ thuật kích thích nhẹ chủ yếu trên da và tổ chức dưới da, nhằm kích thích mạng lưới mao quản và thụ cảm thể thần kinh tại chỗ, có tác dụng gây giãn mạch, tăng cường tuần hoàn, dinh dưỡng da, giảm đau, giảm phù nề, làm bong lớp sừng chết làm cho da mịn màng.

- Kỹ thuật:

+ Xoa: Dùng đầu ngón tay, gốc gan bàn tay hoặc mô ngón tay út, ngón tay cái xoa tròn lên da chỗ đau, tay KTV chuyển di trên da bệnh nhân. Là thủ thuật mềm mại, thường dùng ở bụng hoặc nơi sưng đau. Tác dụng giảm sưng đau tại chỗ.

+ Vuốt: Dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, hoặc mô ngón cái vuốt lên da theo hướng thẳng. Tay KTV vận động trên da người bệnh, cũng có khi dùng dầu hay bột tan để làm trơn tuột da. Kỹ thuật này có thể áp dụng ở toàn thân. Tác dụng làm mềm gân cơ, giảm đau, giảm sưng nề.

2./ Day miết

- Day miết là kỹ thuật kích thích sâu hơn, đặc trưng đối với cơ, gân, dây chằng, các huyết quản, dây thần kinh hoặc đám rối thần kinh. Tác dụng gây giãn mạch & tăng lưu thông máu ở sâu, tăng dinh dưỡng tổ chức cơ và thần kinh, chống teo cơ, day mạnh gây tăng trương lực cơ.

- Kỹ thuật:

+ Day: Dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, mô ngón cái hơi dùng sức ấn xuống da người bệnh và di động theo đường tròn. Thường làm chậm, chừng độ nặng hay nhẹ, to hay nhỏ tùy tình hình bệnh. Là thủ thuật mềm mại, dùng ở nơi đau và có nhiều cơ. Tác dụng giảm sưng đau.

+ Miết: Dùng đầu ngón tay cái miết chặt vào da người bệnh rồi miết theo hướng thẳng. Tay KTV di động làm kéo căn da người bệnh. Kỹ thuật hay dùng ở đầu, bụng, chi thể.

+ Phân & hợp: Như kỹ thuật miết nhưng dùng cả hai đầu ngón tay cái, hoặc mô ngón út hai tay; từ cùng một chỗ miết ra hai bên gọi là phân, từ hai chỗ khác nhau miết về cùng một chỗ gọi là hợp. Kỹ thuật này hay dùng xoa bóp ở đầu mặt.

3./ Nắn bóp

- Nắn bóp có tác dụng chính lên những cơ, dây chằng, gân, tổ chức quanh khớp. Gây giãn mạch tại chỗ rõ rệt, tăng dinh dưỡng tổ chức cơ, chống teo cơ, nắn bóp mạnh làm tăng trương lực cơ. Là một phương pháp tốt để nuôi dưỡng tổ chức cơ nên được coi như một hình thức chuyển di thụ động đối với các cơ. Nắn bóp trực tiếp lên gân, dây chằng hay thần kinh được sử dụng nhiều trong chống đau, chống co cứng cơ, kích thích cơ - thần kinh bị liệt...

- Kỹ thuật:

+ Véo: Dùng ngón cái & ngón trỏ kẹp & kéo da lên, hai tay làm liên tục làm cho da người bệnh luôn luôn như bị cuộn giữa những ngón tay KTV. Hay dùng ở lưng & trán.

+ Bóp: Dùng ngón cái & những ngón tay kia bóp vào cơ hoặc gân bị bệnh. Có thể bóp bằng hai, ba, bốn hay năm ngón tay. Có thể vừa bóp vừa hơi kéo lên, không nên dùng lực bóp ở đầu ngón tay sẽ gây đau, mà dùng lực ở đốt thứ 3 ngón tay để bóp. Kỹ thuật này dùng ở cổ, vai, gáy, nách, chi thể. Sức bóp mạnh hay nhẹ tùy trường hợp cụ thể.

4./ Đấm chặt

- Đấm chặt là hình thức tác động sâu tới cả xương khớp & toàn thân do truyền lực tùy theo chừng độ mạnh hay nhẹ. Nếu đấm nhẹ và ăn nhịp sẽ có tác dụng gây ức chế thần kinh trung ương, giảm đau, tạo cảm giác dễ chịu chống mệt mỏi. Đấm chặt thường được sử dụng nhiều trong xoa bóp lưng và chi thể.

- Kỹ thuật:

+ Đấm: Bàn tay nắm dùng mô ngón út hoặc bàn tay úp đấm vào chỗ đau.

+ Chặt: Bàn tay doãi, dùng mô ngón út chặt liên tiếp vào chỗ đau. Nếu làm ở đầu thì xòe ngón tay, dùng ngón út để chặt vào đầu người bệnh.

+ Phát: Bàn tay hơi khum, giữa lòng bàn tay hơi lõm, phát từ nhẹ tới nặng vào chỗ bị bệnh. Khi phát da bị đỏ lên do sức ép không khí trong lòng bàn tay tăng gây lên. Thường dùng ở vai, thắt lưng, tứ chi, bụng, vùng sau phổi để tăng thông khí phổi.

5./ Rung lắc

- Rung lắc có tác dụng lan tỏa sâu và rộng, có thể kích thích hoặc hồi phục những phản xạ và dẫn truyền thần kinh. Rung lắc với tần số chậm, nhịp nhàng gây ức chế thần kinh trung ương và giảm đau, giảm trương lực cơ. Rung lắc có tác động trực tiếp đến xương và khớp. Ngày nay ngoài cách xoa bóp trị liệu theo kỹ thuật rung lắc bằng tay, người ta đã sản xuất ra các loại máy rung lắc toàn thân, cầm tay, các loại ghế, giường xoa bóp & rung lắc rất thuận tiện.

- Kỹ thuật: Người bệnh ngồi thẳng, tay buông thõng, kỹ thuật viên đứng, hai tay cùng nắm cổ tay người bệnh, hơi dùng sức rung từ tay lên vai để tay người bệnh rung như làn sóng. Tác dụng làm mềm cơ, trót lọt khớp, giảm mỏi mệt.

6./ Bấm huyệt

- Bấm huyệt là một kỹ thuật điều trị của y khoa cổ truyền, là phương pháp dùng tay để tác động lên huyệt, đem đến hiệu quả điều trị rất cao. Cơ chế Tác dụng ngoài các tác động lên hệ thần kinh, da... còn được giải thích theo nguyên lý của y khoa cựu truyền.

- Kỹ thuật:

+ Day huyệt: Dùng đầu ngón tay cái, gốc bàn tay, mô ngón tay cái, mô ngón út day vào chỗ đau hoặc những vị trí huyệt

+ Bấm huyệt: Dùng đầu ngón tay cái, gốc bàn tay, mô ngón tay cái, mô ngón út bấm vào chỗ đau hoặc những vị trí huyệt. ảnh hưởng chính là sức qua da vào cơ, xương hoặc vào huyệt.

+ Điểm huyệt: Dùng ngón tay cái, hoặc phần mu khớp đốt 2 & 3 ngón trỏ, ngón giữa, hoặc khuỷu tay, dùng sức ấn thẳng góc vào huyệt. Đây là thủ thuật ảnh hưởng mạnh & sâu, thường dùng ở mông, lưng, dây lưng, tứ chi.

Tuy 6 cách xoa bóp trị liệu này chưa đi sâu vào kỹ thuật nhiều lắm hy vọng mọi người có cái nhìn tổng quan về xoa bóp trị liệu và quan trọng nhất là bấm huyệt một cách tốt nhất. Cuối cùng là cho Y tế Quân đội cảm ơn các độc giả đã quan tâm trong suốt thời gian qua.

DANH MỤC TIN
THEO DÕI CHÚNG TÔI
KHẢO SÁT KHÁCH HÀNG

Sản phẩm nào của chúng tôi mà bạn hài lòng nhất?

Xin chân thành cám ơn quý khách đã tham gia khảo sát